GIÁ TRỊ ĐẶC SẮC CỦA DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT CHÙA BỐI KHÊ

Lê Liêm - Ban Quản lý di tích danh thắng Hà Nội 09:12 06/08/2025

Chùa Bối Khê có tên chữ là "Đại Bi tự", là một trong những ngôi chùa nổi tiếng trong vùng với không gian, cảnh quan và môi sinh mở rộng và thông thoáng. Đây là ngôi già lam cổ tự được khởi dựng từ thời Trần trên bờ Đỗ Động giang. Con sông này là con sông cổ chảy từ Cao Bộ (xã Bình Minh) xuống Từ Châu (cuối xã Dân Hòa) - "Thượng tự Cao Bộ, hạ chí Từ Châu" rồi đổ ra sông Nhuệ xuống Lục đầu giang. Dân gian trong vùng vẫn truyền tụng câu ca "Đỗ Động giang khai, Thanh Oai hiển thánh".

Chùa Bối Khê nằm trên địa bàn thôn Song Khê, xã Tam Hưng, thành phố Hà Nội. Theo sách "Các trấn tổng xã danh bị lãm" biên soạn vào năm 1810 - 1813 thì trước cách mạng tháng 8 năm 1945, thôn Song Khê gồm hai thôn là Bối Khê và Phúc Khê thuộc tổng Bối Khê, trấn Sơn Nam Thượng. Tổng Bối Khê lúc ấy bao gồm 06 xã gồm: Bối Khê, Phúc Khê, Văn Khê, Phượng Lịch, Thạch Nham, Đan Nhiễm.

GIÁ TRỊ ĐẶC SẮC CỦA DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT CHÙA BỐI KHÊ- Ảnh 1.

Chùa Bối Khê kết cấu theo kiểu "Nội công, ngoại Quốc"quay hướng Tây, tọa lạc theo thế "Phượng chủy", nghĩa là ngôi chùa nằm gọn trên đầu con phượng như đang tung cánh giữa trùng khơi: Phía trước là cánh đồng và bãi đất trống cùng những cây cổ thụ và dòng Đỗ Động giang; từ Ngũ môn quan tới Tam quan là cây cầu nhỏ vắt ngang trông tựa như mỏ phượng; hai bên sườn Tam bảo là 2 giếng đá cổ trông tựa như đôi mắt; phần đất hình tam giác vắt sang làng Hưng Giáo (cùng xã Tam Hưng) tựa đuôi cong. Như vậy, toàn bộ ngôi chùa cổ tọa lạc chỉnh tề trên đầu của linh vật này. Ngôi chùa này còn giữ được khá nhiều dấu tích của ngày khởi dựng. Chùa còn bảo lưu được bệ đá noa sen thời Trần, chim thần Ga -ru - đa tạc bằng gỗ ở đầu đao thượng điện, chân đèn đá, tượng và gạch thời Mạc, tượng thời Lê có giá trị nghệ thuật rất cao. Đặc biệt ở phần điện Thánh kết cấu theo kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái đao cong được đón đỡ bởi hệ thống đấu củng là một tác phẩm tuyệt tác của nghệ thuật taọ hình.

Chùa Bối Khê là nơi thờ tự theo dạng cách "Tiền Phật, hậu Thánh" (giống như Chùa Thầy, Chùa Keo…), phía trước là nơi thờ Phật, phía sau là nơi thờ đức Thánh Bối Nguyễn Bình An. Ông là người làng Bối Khê, xuất gia đầu Phật từ nhỏ. Sau lên Chùa Trăm Gian (Quảng Nghiêm Tự) trên Tiên Lữ tu trì và đắc đạo ở đó. Sau khi ông nhập khám, hai làng Bối Khê và Tiên Lữ (vùng Tứ Bích) kết Chạ thành Anh cả và Em bé tới ngày nay.

GIÁ TRỊ ĐẶC SẮC CỦA DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT CHÙA BỐI KHÊ- Ảnh 2.

Chùa Phật và điện Thánh là hai cụm kiến trúc chính và quan trọng nhất của chùa Bối Khê. Về phối cảnh kiến trúc thì có sự liên kết với nhau thành một khối, song về chức năng tôn giáo và sắp xếp kiến trúc trọng yếu thì là hai cụm khác nhau. Chùa Phật bao gồm các tòa nhà tiền đường, thiêu hương, thượng điện. Hai dãy hành lang và một phần của tòa đại bái (hai gian chái, hai gian hồi) thuộc cơ bản vào điện Thánh phía sau. Tòa thiêu hương nối liền với gian giữa của tiền đường với thượng điện. Cấu trúc này tạo cho mặt bằng của riêng chùa Phật có hình chữ Công. Đây là loại hình phân loại mặt bằng của chùa ở Việt Nam nói chung.

GIÁ TRỊ ĐẶC SẮC CỦA DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT CHÙA BỐI KHÊ- Ảnh 3.

Điện Thánh gồm tòa đại bái, phần nối gian giữa đại bái và hậu cung (cung Tổ). Sự kết nối của ba tòa nhà làm cho điện Thánh cũng có mặt bằng hình chữ Công. Hai chữ Công này nằm trọn vẹn trong một chữ Quốc. Chức năng tôn giáo thờ cả Phật và Thánh trong một khuôn viên định hình kiến trúc chùa Bối Khê là loại "tiền Phật hậu Thánh.

Các công trình kiến trúc khác gồm nhà Bia và khu nhà ở của sư trụ trì, nhà Tổ - Mẫu. Trên mặt bằng tổng thể của chùa Bối Khê, ta thấy có năm tháp, một Ngũ môn quan, một tam quan, một cụm kiến trúc chùa Phật, một cụm kiến trúc điện Thánh và một số kiến trúc phụ khác. Các thành phần kiến trúc chính của chùa đều nằm trên một trục thẳng dài theo hướng Tây sang Đông. Trong các bộ phận kiến trúc, phần chùa Phật, điện Thánh, ngũ môn quan, tam quan có giá trị nghệ thuật cao. Các kiến trúc phụ, tháp, giếng cổ có cấu trúc đơn giản.

- Đền Đức Ông: Đền có quy mô nhỏ, tọa lạc dưới gốc cây Bồ đề. Tương truyền hạng mục này có từ thời Lê, gắn với sự tích linh thiêng của cây Bồ đề nên được Nhân dân nơi đây lập am để phụng thờ. Sau này, ngôi đền này được sửa chữa nhiều lần có kiến trúc như ngày nay.

- Tháp Phật: Tọa lạc ngay sát đường liên thôn, phía trước là UBND xã Tam Hưng. Đây là trục đường chính của xã và của làng, trước khoảng sân rộng của ngôi chùa. Toàn bộ vườn tháp được bao quanh bởi tường lửng trát vữa. Các tháp này có niên đại dàn trải vào thời Nguyễn với các tầng tháp khác nhau. Hiện vườn tháp còn tồn tại 5 tháp.

- Ngũ môn quan: Từ con đường lát đá tại sân ngoài, theo trục chính đạo là tới Ngũ môn quan. Đây là công trình đồ sộ mà du khách cảm nhận được đầu tiên khi vào thăm quan chiêm bái, xây bằng gạch gồm năm cổng.

GIÁ TRỊ ĐẶC SẮC CỦA DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT CHÙA BỐI KHÊ- Ảnh 4.

Cổng chính nổi trội, cao và to nhất bằng gạch và vôi vữa hai tầng tám mái, bốn cổng phụ đăng đối ở hai bên. Tại bốn góc tầng một xây bốn trụ lớn cao, xây tường hai bên nối lại với nhau tạo khung hai bên. Phía trong xây vòm cuốn vừa tạo thế vững chắc cho cổng, vừa kết hợp với trụ và tường để tạo mặt bằng xây tầng hai.

- Cầu gạch: Cầu gạch nằm phía sau Ngũ môn quan. Đây là cây cầu nhỏ vắt qua con ngòi nhỏ (dấu tích của Đỗ Động giang xưa kia). Cầu xây uốn cong có ba nhịp nhỏ, xây bằng gạch chỉ, phía bên trên là bờ dải, phía dưới là lan can.

- Tam quan: Tam quan nằm phía sau cầu gạch, sát với con đường làng. Phía trước Tam quan là hai phiến đá xanh, tương truyền là dấu vết bước chân của đức Thánh Bối. Nền Tam quan cáo hơn sân chùa, bo viền xung quanh là bậc đá tam cấp, trên mặt nền là các chân tảng.

Bộ khung Tam quan làm bằng gỗ. Hạng mục này có niên đại khởi dựng từ thời Lê nhưng đã qua nhiều lần sửa chữa, sớm nhất là vào năm 2004. Thành phần chính tạo nên các vì là hệ thống cột, câu đầu, rường, trụ trốn, xà nách, kẻ. Kết cấu bộ vì hạng mục mục này gồm bốn cột cái và các cột quân. Do kết cấu theo kiểu một gian hai chái nên có tổng cộng bốn cột cái và mười hai cột quân, phân đều về các bên và góc.

GIÁ TRỊ ĐẶC SẮC CỦA DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT CHÙA BỐI KHÊ- Ảnh 5.

- Tiền đường, thiêu hương, thượng điện, tả hữu hành lang: Từ sân bước lên các bậc tam cấp là tới các hạng mục chùa Phật. Mặt bằng chùa Phật bao gồm các hạng mục tiền đường, thiêu hương, thượng điện tạo thành kết cấu kiến trúc kiểu chức công; hai hành lang chạy hai bên, phía sau là hậu đường tạo thành kết cấu kiểu "Nội công ngoại quốc". Một đầu hành lang nối liền với tòa tiền đường, đầu kia nối liền với hậu đường của điện Thánh. Kiến trúc khu vực thờ Phật bao gồm 3 tòa nhà:

Tiền đường, thiêu hương và thượng điện. Ba tòa nhà này nối với nhau thành hình chữ "công". Hai hành lang chạy song song hai bên chữ "công". Một đầu của hai hành lang nối liền với tiền đường, đầu kia nối với tòa đại bái của điện Thánh, tạo cho mặt bằng tổng thể chùa Phật có kiểu nội "công" ngoại "quốc". Tiền đường và thiêu hương, hai hành lang có cùng một độ cao mặt nền.

Mặt nền của thượng điện cao vượt lên gần 1m so với nền các kiến trúc khác ở khu chùa Phật. Đây có đặc điểm giống với khu các chùa khác thời nhà Trần. Nền các tòa kiến trúc trong khu chùa Phật chủ yếu được xây bó bằng gạch, lát nền là gạch vuông Bát Tràng; vật liệu bậc thềm là đá xanh. Tiền đường có bảy gian: một gian giữa, hai gian hai bên, hai gian hồi, hai gian chái. Thiêu hương có hai gian. Thượng Điện có một gian hai chái. Toàn bộ khung các kiến trúc chùa Phật đều được làm bằng gỗ, liên kết với nhau qua nhiều bộ vì kèo, xà và cột.

Toàn bộ khung kiến trúc chùa Phật đều làm bằng gỗ, liên kết qua các bộ vì. Việc tạo tác các bộ vì kiến trúc tại đây dựa trên cơ sở liên kết giữa các cột. Các cột cái nối với nhau qua các câu đầu. Ở tiền đường và thiêu hương, các câu đầu đều ăn mộng xẻ ở đầu cột. Ở thượng điện thì câu đầu ăn mộng qua đấu vuông. Các câu đầu tạo dáng hơi cong ở đoạn giữa, bụng hơi thót lên. Đỡ dưới các câu đầu là đầu dư. Việc liên kết giữa các cột cái và cột quân thực hiền bằng xà nách tỳ lên đầu bẩy hiên đều tương tự như ở tam quan, được thực hiện bằng ba loại liên kết: Chồng rường giá chiêng, thượng rường hạ kẻ và kẻ.

- Điện Thánh: Mặt bằng của điện Thánh có kết cấu kiểu chữ Công với ba đơn nguyên kiến trúc gồm đại bái, ống muống và hậu cung. Về tổng thể, mặt nền kiến trúc hạng mục đại bái và ống muống có cùng độ cao với mặt bằng của hai dãy tả hữu hành lang. Riêng mặt bằng hậu cung là cao hơn hẳn nền đại bái.

Bậc thềm của tòa đại bái có hai cấp được vỉa bằng đá xanh hình khối chữ nhật. Bậc thềm hậu cung cũng có hai bậc bó đá xanh. Toàn bộ nền của đại bái và ống muống lát gạch Bát Tràng phân như sau: Đại bái chin gian, ống muống một gian, các gian của điện Thánh có kích thước như nhau làm theo kiểu đấu củng.

Điện Thánh được bố trí ở sau chùa Phật, là nơi thờ đức Thánh Bối. Điện Thánh hội đủ các thành phần của một ngôi đền, đình ở Bắc Bộ nếu tách hẳn ra khỏi chùa Phật. Mặt bằng chung điện Thánh có hình chữ Công, được kết hợp từ ba bộ phận kiến trúc: Đại bái (chức năng nhà tiền tế) mặt bằng hình chữ nhật, Ống Muống mặt bằng hình chữ nhật và Hậu Cung mặt bằng hình gần vuông.

Tổng thể mặt nền đại bái và ống muống cung độ cao bằng mặt, nối liền mạch với hai hành lang chùa Phật. Nền hậu cung cao hơn hẳn Đại Bái và Ống Muống (24cm). Nền toàn bộ điện Thánh xây bó bằng gạch, đá. lát nền gạch vuông và gạch chỉ. Các bộ phận kiến trúc đều có bậc thềm lên xuống bằng đá xanh. Bộ vì kèo, liên kết khung, bộ mái tương tự như ở khu chùa Phật, chỉ có khác ở khung khu Hậu Cung có hệ thống các cụm đấu củng liên kết khác biệt.

Hậu cung là bộ phận kiến trúc đáng chú ý nhất trong toàn bộ phần điện Thánh. Hậu cung có kiến trúc một gian hai chái, hai tầng ám mái. Kết cấu bộ vì và các cụm đấu củng rất độc đáo, doanh tạo (xây dựng lần đầu) thời Lê trung hưng, trùng tu hai lần vào thế kỉ 18 và thời Nguyễn.

Điện Thánh là một kết cấu kiến trúc đặc biệt của chùa Bối Khê. Ở đây kiểu kiến trúc hai tầng tám mái sử dụng đấu củng là một điểm độc đáo. Kiểu sử dụng đấu củng này có thể thấy trước đó ở Đình Tây Đằng, song điện Thánh có sự kế thừa và cho thấy dấu ấn sáng tạo của người Việt. Đó là xử lý các xà đỡ dọc có trang trí đầu rồng và mây cuộn; đặc biệt các cụm đấu củng ở các tầng trên mặt khung lại được sử dụng để đội hình trang trí linh vật là điều không giống với cách dùng đấu củng của Trung Hoa.

Hệ thống tượng thờ ở chùa Bối Khê có tổng cộng 92 pho, niên đại sớm nhất là tượng gỗ Quán Âm tạo tác vào thế kỉ thứ 16, muộn nhất là những pho tượng đất La Hán tạo tác vào cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20. Có nhiều tượng bị mất, đã được thay vào chỗ cũ. Những pho tượng có giá trị gồm Quán Âm, bà Hậu được tạo tác vào thời Mạc ( thế kỉ 16), tượng Thích Ca Sơ Sinh ( Cửu Long) có tòa Cửu Long độc đáo ít thấy, và tượng Đức Thánh Bối. Những tượng tiêu biểu, có giá trị độc đáo là tượng Quán Âm, tượng Cửu Long và tượng đức Thánh Bối.

+ Tượng Quan âm thiên thủ thiên nhãn, Thiện tài và Long nữ: Tượng Quán âm làm bằng gỗ, toàn bộ tượng được đặt trên nhang án đá thời Trần. Theo các nhà nghiên cứu, tượng có niên đại tạo tác gần gũi với các tượng Quan Âm thế kỷ XVI (thời Mạc). Tượng được tạc trong tư thế thiền định, hai chân xếp bằng, để lộ bàn chân phải, xếp tựa lên phần đùi bên trái. Tượng Quán Âm được đặt ở trung tâm của Phật điện chùa Bối Khê.

GIÁ TRỊ ĐẶC SẮC CỦA DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT CHÙA BỐI KHÊ- Ảnh 6.

+ Tượng Di đà tam tôn: Gồm ba pho Phật A di đà, Quan Thế âm và Đại Thế chí. Tượng A Di Đà ngự chính giữa, vị trí cao nhất phía trong cùng của gian giữa. Tượng theo tư thế kiết già. Đầu tượng có tóc kết xoắn ốc cao thiên về phía đỉnh. Tai đeo hoa, cổ đeo vòng trang trí hình tròn lớn ở giữa với hình hoa mai và anh lạc. Theo các chuyên gia về mỹ thuật thì cách tạo hình tượng đeo dây anh lạc chỉ có ở tượng niên đại thế kỷ XVI, XVII. Tay phải của tượng để trước lòng đùi kê lên bàn chân, tay trái lồng lên tay phải. Ngón cái của hai tay đan xen nhau, đều đeo nhẫn có mặt hoa cúc mãn khai. Tượng khoác áo cà sa chùng lỏng, gấp nhiều nếp phủ quanh cổ và lượn tròn trước bụng. Lớp áo ngoài trùm qua bờ vai, phủ lên hai gối xuống mở bệ sen. Bên trong có lớp xiêm rộng thắt lưng nhiều nếp và bó mối xoắn.

+ Tượng Tam Thế Phật: Bộ tượng Tam thế có tên đầy đủ là Tam Thế Thường Trụ Diệu Pháp Thân (Tam Thế: 3 thời, quá khứ gọi là Trang Nghiêm đại kiếp, Hiện tại gọi là Hiền kiếp, Vị lai gọi là Tinh tú kiếp. Mỗi đại kiếp xấp xỉ bằng 1.344.000.000 năm; Thường trụ: là tồn tại vĩnh hằng; Diệu: đẹp đẽ, linh thiêng, nhiệm mầu; Pháp Thân: cái thân chân thực không biến đổi, không lệ thuộc vào hình - danh - sắc - tướng, không sinh không diệt, tức cái đạo thể/Phật thân). Một tên khác là Tam Thế Tam Thiên Phật, có nghĩa là ba nghìn vị Phật nối nhau giáo hoá chúng sinh trong ba đại kiếp.

+ Thập điện Diêm vương: Mười pho được đắp bằng đất. Có tám pho đặt đối xứng, áp hai bên tường của tòa thiêu hương, mỗi bên bốn pho; hai pho còn lại ở vị trí áp hai bên tường tòa nhà tiền đường. Việc bài trí 18 vị La Hán cũng giống như ở chùa Trăn Gian, chỉ khác chùa Trăm Gian là các bức phù điêu, còn ở chùa Bối Khê là các pho tượng đất. Mười tám pho tượng này đều đặt tại các vị trí cân xứng, bao gồm các pho:

+ Tượng Đức Thánh Bối là một loại đồ thờ nhân cách đặc biệt, khác với tượng thờ Quán Âm. Tượng Ngài xác định chức năng tâm linh của của kiến trúc chùa tiền Phật, hâu Thánh. Tất cả những trang trí kiến trúc, bài trí sắp xếp không gian, hệ thống đồ thờ liên quan, các hình thức trang trí ở khu vực Điện Thánh đều tập trung quanh nơi đặt tượng Ngài.

Tượng đức Thánh Bối đặt trong một khám thờ có ghép ván và cửa bức bàn khép kín. Quanh đường diềm, các tai khám đều có chạm hình rồng chầu mặt nguyệt, dạng rồng đuôi xoắn thời Nguyễn, và có trang trí hoa lá thời Nguyễn.

- Bệ đá hoa sen: Đặt ở vị trí trong cùng của hạng mục thượng điện. Phía trên của bệ đá đặt pho tượng Quan âm thiên thủ thiên nhãn thế kỷ XVI. Bệ đá đã bị tháo ra lắp lại và khôn còn kích thước ban đầu. Bệ đá hình khối chữ nhật, bao gồm bốn phần: Mặt bệ, thân bệ, chân bệ và đế bệ.

Mặt bệ tạo dáng hình hoa sen nở ba lớp: Hai lớp ngửa một lớp úp, giữa cánh sen là một vòng tròn nhỏ như cái nhẫn với một số vòng tròn nhỏ hơn xung quanh làm cánh. Phía trong dìa cánh sen là đường gờ nổi gãy khúc và xoắn lại ở đầu cánh. Trong cùng bao lấy hoa là là một đường giống như dìa cánh sen. Thân bệ được bắt đầu bằng đường diềm có chạm hoa văn dây hình sin. Bốn góc chạm bốn chim thần Garuda. Các chim thần đều ở tư thế quỳ, hai chân gập gối xoạc ra hai bên, hai tay khuỳnh đưa ngang đầu trong tư thế nâng đỡ đài sen.

Dáng chim thần vừa có một số yếu tố chim vừa có yếu tố người. Yếu tố chim thể hiện ở phần mỏ to và khỏe, quặp, lưng có hai cánh lớn dang rộng, các móng vuốt chân tay sắc nhọn. Yếu tố người thể hiện ở phần cơ thể và phục sức. Cơ thể chim để mình trần lộ phần ngực và bụng căng tròn, chân và tay mập tròn. Đầu chim đội mũ, trán có chữ vương, tai đeo khuyên tròn, xiêm áo rộng có nhiều nếp gấp mềm.

Mặt trước thân bệ chia thành ba ô chạm rồng chầu trong khung hình lá đề, mỗi ô bên đều có con rồng chầu vào. Đan xen quanh hình rồng có các cụm vân khánh, các dải lượn xung quanh. Xen giữa các ô là hình tượng hươu ngậm cành lá, chân cao. Ô dưới có chạm dãy đường viền có hoa bốn cánh. Phía sau mặt thân bệ chạm minh văn chữ Hán ghi lại việc tiến cúng tạo tác bệ thờ và ruộng cúng vào đất chùa Bối Khê năm 1382.

Móng đế bệ đá là các phiến đá xếp đơn giản, song ở các góc phía phải ngoài là một phiến đá lộ lên một phần có chạm hoa và một phần thân rồng. Hình chạm ở đây khác hẳn với phần khác của bệ đá. Từ ccacs họa tiết hoa văn nói trên, một số học giả cho rằng bệ đá này có lẽ là một phần của di vật thuộc ngôi chùa được làm vào thời Lý, nhưng sau đã được tái sử dụng vào bệ đá này để làm bàn thờ này vào thời Trần hay thời sau Trần.

Chùa Bối Khê là ngoài việc thờ Phật thì việc thờ Thánh Tổ cũng được coi là dạng cách đặc biệt theo kiểu tiền Phật hậu Thánh tại ngôi già lam cổ tự này. Truyền thuyết ở cả hai làng kể rằng, vào cuối thời Trần (thế kỷ XIII), ở vùng Bối Khê có bà mẹ trẻ, do dẫm chân vào vết chân người khổng lồ trên đá rồi mang thai và sinh ra một cậu con trai. Cậu bé rất khôi ngô, đĩnh ngộ, bẩm sinh từ bi vô lượng. Thuở nhỏ, do nhà nghèo, cậu bé thường nương náu cửa Phật tại ngôi chùa làng và sau đó xuất gia, tầm sư học đạo.

Năm 7 tuổi, Ngài mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải ở nhà cô, cậu ở làng Bùi Xá để chăn trâu, cắt cỏ. Sớm có lòng từ bi hướng Phật, Ngài thường lui tới chùa làng để nghe giảng kinh, vào mùa hanh khô thường hay rủ bạn ra tát các vũng nước, đem tôm cá bắt được thả ra sông. Ngài thích lấy đất nặn chùa, nặn tượng và đem cơm nắm oản cúng lễ. Vốn thông minh, tuấn tú và thông tuệ khác thường, khi cậu của Ngài mời thầy về dạy cho con thì Ngài thường đứng ngoài cửa nghe.

Thầy thấy Ngài ham học, đem lòng yêu mến nên đã dạy thêm cho Ngài vào ban đêm. Năm 15 tuổi, Ngài xuất gia, lấy hiệu là Đức Minh, tự là Bình An đến tu tại chùa Tràng An (tục gọi là chùa Sở, cạnh núi Đồng Lanh, xã Tiên Lữ - Hoài Đức) làm môn đệ của Thiền sư Phạm Cốc nổi tiếng thời bấy giờ. Mười năm sau (năm 1305), Ngài vào chùa Hương Tích thỉnh giáo Long Vương Châu Nhân, học được phép Đảo Vũ. Năm Hưng Long thứ 13 (năm 1307) đại hạn, vua Trần Anh Tông triệu Ngài về Kinh đô Thăng Long làm lễ cầu đảo được trận mưa suốt 3 ngày, chính vì thế mà nhà vua đã tặng Ngài bốn chữ "Đức Minh Châu Nhân". Đó là Nhà sư - đạo sĩ Nguyễn Bình An, tục truyền là Thánh Bối. Nhà sư đã có công sửa sang lại chùa Bối Khê.

Để nuôi thợ, Ngài cho nấu một niêu cơm con rồi bước ba bước về quê Bối Khê xin chú thím tương cà. Khi cơm chín, thợ thay nhau vào bắc niêu cơm nhưng không nổi. Ngài chỉ nhón tay nhấc ra, dỡ được ba nong cơm và một nong cháy, cùng tương cà bày cả trăm mâm cỗ, thợ ăn mãi không hết. Sau ba năm chịu tang thầy, Ngài về thăm quê Bối Khê, đến trước mộ cha mẹ khấn vái, tự nhiên trời tối sầm trong sáu khắc (12 giờ) rồi có nấm hình chữ nhật nổi lên, các thửa ruộng đều giãn ra, không nhà nào mất ruộng. Trở lại chùa Tràng an, thấy chùa hư nát Ngài cho xây dựng lại.

Ngày khởi công, thợ và nhân dân các nơi đến quá đông, gần trưa Ngài cho gạo vào nồi đất và bảo mọi người thổi cơm. Cơm đang sôi, Ngài nói với mọi người rằng chưa có thức ăn nên Ngài sẽ về Bối Khê xin cà và muối. Nói rồi, Ngài nhún chân không thấy đâu nữa, khi cơm cạn Ngài đã về đến nơi. Ngài đi mây về gió, các dấu tích vẫn còn là "Ao bước chân Thánh" ở làng Tiên Lữ - Đồng Hoàng - Thượng Thanh - Bối Khê. Khi qua Bình Đà, một quả cà đã rơi xuống tạo thành giếng Âm. Ngài mang cà và muối ra bày đủ một trăm đĩa, xới đủ một trăm mâm, một trăm mâm xới hết lại đầy.

Đến năm 95 tuổi (năm 1375) Ngài cho làm một khám son để ở mé tả điện trong chùa, mời dân trong vùng và học trò đến dặn rằng: "Nay thầy số trời đã hết, thầy vào khám ngồi đủ một trăm ngày, thơm thì thờ, tanh hôi thì đem an táng ở sau chùa". Mới được ba tuần trăng (30 ngày) thì có hương thơm, hào quang tỏa rạng, mọi người vui mừng đem hương cúng tế và báo cho các làng khác biết. Sau đó làng Bối Khê cùng mười làng xung quanh mang kiệu đến rước bát Phù Hương về thờ và nhận kết nghĩa anh em với làng Tiên Lữ. Sau này, ngày hội chính ở làng Tiên Lữ là mồng 4 tháng Giêng, ở làng Bối Khê là ngày 12 tháng Giêng kết chạ.

Cuối đời nhà Trần, vua hiếm muộn nên cùng Hoàng hậu ngự giá về cầu tự sau sinh được Hoàng tử. Vua liền phong cho Ngài là "Thượng đẳng tôn thần" và thăng hai chùa lên hàng "Quốc tự". Cuối đời nhà Hồ, giặc Minh đem xâm chiếm nước ta, chùa bị chúng đốt cháy liền ba ngày nhưng Khám vẫn còn, giặc tức tối lắm. Chợt có ông lão bảo: "Muốn đốt khám Thánh thì phải đem ra tảng đá giữa cánh đồng, quấn bấc thấm tẩm dầu mới đốt được". Giặc tin và làm theo lời ông lão, nhưng khi ngọn lửa bốc cao liền hóa ra một trận cuồng phong, lửa khói mù mịt rồi mưa xối xả suốt ba khắc (6 giờ), nước đỏ như máu khiến quân Minh đóng gần đấy bị dịch mà chết rất nhiều và một phần bị quân ta do 2 tướng Lê Triện, Nguyễn Xí chỉ huy đánh cho tơi bời, phải rút quân về nước.

GIÁ TRỊ ĐẶC SẮC CỦA DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT CHÙA BỐI KHÊ- Ảnh 7.

Hội Pháo đầu xuân không chỉ có ở Bối Khê, nhưng như ở Đông Kỳ thì tổ chức ở sân đình và chùa với việc thi pháo lớn. Ở hội pháo Bối Khê, thì tư duy liên tưởng về các hiện tượng tự nhiên đã rõ nét và phong phú hơn qua tục đốt pháo màn than. Tục này đã lâu không làm nên chỉ còn trong ký ức của mọi người dân nơi đây. Xưa kia, vào khoảng gần trưa ngày 12 tháng Giêng (âm lịch) hàng năm, các thôn trong làng Bối Khê thi đốt pháo. Người ta đạt trên một ngọn cây tre (cao khoảng 15-17m) một khung giấy tròn (đường kính 40-50cm) quét dày thuốc pháo dễ bắt lửa, xung quanh gắn nhiều pháo con và ở giữa có một quả pháo đại. Cách đốt bằng Nhị Thanh hay Thăng Thiên đặt dưới đất, cắt thuốc vừa đủ, sao cho khi châm lửa nó bay lên vừa tới màn than thì nổ, tạo lửa gây cháy màn, rồi dẫn nổ đến pháo con và pháo đại.

Mỗi thôn chọn một số người ra đốt pháo, những người này phải hoàn toàn trong sạch, lý lịch rõ ràng, gia đình không có điều xấu, không tang ma… Lệnh gọi cả thôn vào trước, một người trung niên, mặt thành kính bước lên, hai tay nâng chiếc pháo xá dài vào chùa, miệng lầm rầm những lời cầu nguyện, sau đó bước ra, đặt pháo chiếu lên màn than.

Màn than đen sẫm thuốc pháo được nhìn nhận như một bầu trời mây đọng nước. Màn than bắt cháy ngoằn ngoèo theo vệt thuốc là hình ảnh những tia chớp. Rồi râm ran pháo con là tượng của sấm rền. Tiếng nổ lớn cuối cùng là sấm đại. Tất cả làm nên một tiếng vọng của cơn mưa như nhắc nhở trời đất thực hiện nhiệm vụ - hãy theo sự gợi ý của chúng tôi đây, mà nổi sấm lên mà gọi mây mưa về cho mọi miền no ấm.

Nghi thức lễ cầu mưa tại di tích chùa Bối Khê đã hội tụ thành một hiện tượng văn hóa dân gian đặc sắc. Với nội dung cầu mưa, nguồn hạnh phúc nông nghiệp, của cư dân lúa nước, văn hóa cổ truyền Việt đã thể hiện các nghi lễ phong phú đa dạng. Tâm thức dân gian mang nhiều nét đẹp bất ngờ. Giải mã được các nghi lễ cổ truyền để vừa loại bỏ hủ tục vừa phát huy bản sắc dân tộc là điều mà chúng ta luôn nghĩ tới.

GIÁ TRỊ ĐẶC SẮC CỦA DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT CHÙA BỐI KHÊ- Ảnh 8.

Sự giao hảo kết chạ giữa hai làng Bối Khê và Tiên Lữ trải qua thời gian vẫn được duy trì cho đến nay. Sáng ngày mồng 4 tháng Giêng, đoàn đại biểu Bối Khê sang dự hội chùa Trăm Gian gồm 8 cụ ông và 8 cụ bà. Đoàn sang, được dân Tiên Lữ gọi là các cụ "sãi quan anh". Đến hội chùa Bối Khê 12 tháng Giêng, đoàn đại biểu của "tứ bích" sang dự cũng có số người như vậy và cũng được gọi là "sãi quan anh", để đón tiếp dân anh làng Tiên Lữ bình chọn trong "tứ bích" mỗi thôn 2 người: phải là người cao tuổi, có uy tín trong dân, đạo cao đức trọng, đủ tư cách để tiếp các cụ sãi quan anh.

Khi tiếp chuyện phải nói năng từ tốn, lễ độ, nhún nhường hàn huyên thân tình sau một năm xa cách. Việc đón tiếp dân anh gọi là chứa sãi. Chi phí chứa sãi được lấy từ 7 sào ruộng do làng cấp để tổ chức 2 bữa cơm (trưa ngày mồng 4, sáng ngày mồng 5) và một bữa nước (tối ngày mồng 4). Cỗ chứa sãi rất to, bày trên mâm vuông, hai tầng với đầy đủ các món chay như giò, nem, chả, xôi, chè... trưa ngày mồng 5 dân anh Bối Khê lại nhà.

Đến sáng 12 tháng Giêng "Tứ bích" lại cử đoàn sang dự hội chùa Bối Khê. Đáp lại dân anh Bối Khê mang pháo sang lễ thánh và tặng lan cảnh, các cụ Tiên Lữ lại mang những cây thông giống sang làm quà. Để đón tiếp các cụ sãi quan anh Tiên Lữ, dân Bối Khê cũng chọn đủ 8 người với tiêu chí tương tự như tứ bích. Chi phí chứa sãi ở Bối Khê cũng do dân làng lo đủ để tổ chức 3 bữa cơm nước tương tự. Trưa ngày 12 tháng Giêng, dân anh trở về thì hội Bối Khê cũng đi vào hồi kết.

Tục kết chạ giữa hai làng Bối Khê - Tiên Lữ biểu hiện cho tinh thần đoàn kết tôn trọng tình làng nghĩa xóm. Vào ngày hội làng hay các ngày tết, tuần tiết khác và đặc biệt ngày Phật đản 15 tháng 4, dân làng cùng du khách thập phương lại tới chùa thắp nén hương tỏ lòng thành kính với chư vị Phật tổ bảo trợ cho cuộc sống tinh thần của dân làng; cũng là dịp để dân làng gặp gỡ, cùng nhau giữ gìn thuần phong mỹ tục ở địa phương, góp phần xây dựng cuộc sống yên bình hạnh phúc.

Chùa Bối Khê đã được Bộ Văn hóa và Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng tại Quyết định số 54-VHTT/QĐ ngày 29/4/1979. Đây là di tích có giá trị đặc biệt về kiến trúc - nghệ thuật, cần được bảo tồn và phát huy giá trị; vì vậy, ngày 17/01/2025, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 152/QĐ-TTg công nhận chùa Bối Khê là di tích quốc gia đặc biệt nhằm khẳng định những giá trị đặc sắc tại ngôi chùa này./.

Tin đọc nhiều

Tam Hưng triển khai cắm biển đất công, tăng cường quản lý và ngăn chặn vi phạm đất đai

1 giờ trước

Nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai, kịp thời ngăn chặn tình trạng lấn chiếm, sử dụng đất công không đúng quy định, từ ngày 01/4 đến ngày 03/4/2026, UBND xã Tam Hưng đã tổ chức triển khai cắm biển các thửa đất ao, hồ và các loại đất công do UBND xã quản lý (đợt 1) trên địa bàn.

MTTQ Việt Nam xã Tam Hưng: Quán triệt chương trình hành động, đánh giá toàn diện công tác MTTQ tham gia bầu cử

1 giờ trước

Chiều ngày 03/4, Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Tam Hưng tổ chức hội nghị quán triệt kế hoạch triển khai Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị; đồng thời tổng kết công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031.

Lan tỏa nghĩa cử nhân văn, Công an xã Tam Hưng chung tay hỗ trợ người dân gặp nạn

2 giờ trước

Trước hoàn cảnh khó khăn của một trường hợp tai nạn giao thông nghiêm trọng, Công an xã Tam Hưng đã kịp thời có những hành động thiết thực, thể hiện tinh thần trách nhiệm và sự sẻ chia sâu sắc với Nhân dân.

Công an xã Tam Hưng đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức Nhân dân trong công tác giải phóng mặt bằng

8 giờ trước

Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước và thành phố Hà Nội về triển khai các dự án phát triển kinh tế - xã hội, thời gian qua, Công an xã Tam Hưng đã chủ động phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân chấp hành tốt các quy định trong quá trình thực hiện giải phóng mặt bằng (GPMB), góp phần giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn.

Tin khác
Tam Hưng triển khai cắm biển đất công, tăng cường quản lý và ngăn chặn vi phạm đất đai
Tam Hưng triển khai cắm biển đất công, tăng cường quản lý và ngăn chặn vi phạm đất đai
Nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai, kịp thời ngăn chặn tình trạng lấn chiếm, sử dụng đất công không đúng quy định, từ ngày 01/4 đến ngày 03/4/2026, UBND xã Tam Hưng đã tổ chức triển khai cắm biển các thửa đất ao, hồ và các loại đất công do UBND xã quản lý (đợt 1) trên địa bàn.
1 giờ trước
MTTQ Việt Nam xã Tam Hưng: Quán triệt chương trình hành động, đánh giá toàn diện công tác MTTQ tham gia bầu cử
MTTQ Việt Nam xã Tam Hưng: Quán triệt chương trình hành động, đánh giá toàn diện công tác MTTQ tham gia bầu cử
Chiều ngày 03/4, Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Tam Hưng tổ chức hội nghị quán triệt kế hoạch triển khai Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị; đồng thời tổng kết công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031.
1 giờ trước
Lan tỏa nghĩa cử nhân văn, Công an xã Tam Hưng chung tay hỗ trợ người dân gặp nạn
Lan tỏa nghĩa cử nhân văn, Công an xã Tam Hưng chung tay hỗ trợ người dân gặp nạn
Trước hoàn cảnh khó khăn của một trường hợp tai nạn giao thông nghiêm trọng, Công an xã Tam Hưng đã kịp thời có những hành động thiết thực, thể hiện tinh thần trách nhiệm và sự sẻ chia sâu sắc với Nhân dân.
2 giờ trước
Công an xã Tam Hưng đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức Nhân dân trong công tác giải phóng mặt bằng
Công an xã Tam Hưng đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức Nhân dân trong công tác giải phóng mặt bằng
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước và thành phố Hà Nội về triển khai các dự án phát triển kinh tế - xã hội, thời gian qua, Công an xã Tam Hưng đã chủ động phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân chấp hành tốt các quy định trong quá trình thực hiện giải phóng mặt bằng (GPMB), góp phần giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn.
8 giờ trước
Tam Hưng tăng tốc chi trả bồi thường, hỗ trợ GPMB Dự án Khu đô thị thể thao Olympic
Tam Hưng tăng tốc chi trả bồi thường, hỗ trợ GPMB Dự án Khu đô thị thể thao Olympic
Ngày 03/4/2026, tại Nhà văn hóa thôn Tam Đa, xã Tam Hưng tổ chức thực hiện chi trả tiền tạm ứng bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng (GPMB) cho các hộ dân có đất thu hồi thuộc phạm vi thực hiện Dự án Khu đô thị thể thao Olympic.
8 giờ trước
Lãnh đạo xã Tam Hưng dự, động viên Nhân dân tại chương trình khám mắt miễn phí hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân 7/4
Lãnh đạo xã Tam Hưng dự, động viên Nhân dân tại chương trình khám mắt miễn phí hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân 7/4
Sáng ngày 03/4/2026, tại Điểm y tế Bối Khê, Trạm Y tế xã Tam Hưng đã phối hợp với các đơn vị y tế tuyến trên tổ chức chương trình khám, sàng lọc bệnh về mắt và xét nghiệm miễn phí cho Nhân dân, thiết thực hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân (07/4).
9 giờ trước
Tam Hưng: Họp dân thôn Dư Dụ triển khai công tác GPMB Dự án Khu đô thị thể thao Olympic
Tam Hưng: Họp dân thôn Dư Dụ triển khai công tác GPMB Dự án Khu đô thị thể thao Olympic
Chiều ngày 2/4, UBND xã Tam Hưng tổ chức Hội nghị họp dân thôn Dư Dụ nhằm triển khai công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng (GPMB) phục vụ Dự án Khu đô thị thể thao Olympic. Đồng chí Nguyễn Thu Sơn – Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Chủ tịch UBND xã chủ trì hội nghị.
21 giờ trước
Tam Hưng tham dự Hội nghị giao ban trực tuyến quý I-2026 của Thành ủy Hà Nội
Tam Hưng tham dự Hội nghị giao ban trực tuyến quý I-2026 của Thành ủy Hà Nội
Chiều 2-4, Thành ủy Hà Nội phối hợp với HĐND, UBND và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố tổ chức Hội nghị giao ban công tác quý I, triển khai nhiệm vụ quý II-2026. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới các điểm cầu trên toàn thành phố với gần 5.000 đại biểu tham dự.
21 giờ trước
Hà Nội đánh giá kết quả công tác quý I, triển khai nhiệm vụ trọng tâm quý II-2026
Hà Nội đánh giá kết quả công tác quý I, triển khai nhiệm vụ trọng tâm quý II-2026
Chiều 2-4, Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội tổ chức Hội nghị giao ban công tác quý I, triển khai nhiệm vụ quý II-2026.
22 giờ trước
V/v rà soát, tổ chức thực hiện TTHC liên quan người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam lĩnh vực việc làm thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND xã
V/v rà soát, tổ chức thực hiện TTHC liên quan người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam lĩnh vực việc làm thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND xã
Thực hiện Quyết định số 396/QĐ-TTPVHCC ngày 31/3/2026 của Trung tâm Phục vụ hành chính chính Hà Nội về việc công bố Danh mục thủ tục hành chính liên quan đến người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam lĩnh vực việc làm thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp xã trên địa bàn thành phố Hà Nội. UBND xã giao các cơ quan, đơn vị thực hiện một số nhiệm vụ sau:
16:28 02/04/2026