Nghị định được ban hành trong bối cảnh cả nước đang triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động của thôn, tổ dân phố; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở cơ sở và bảo đảm chế độ, chính sách đối với đội ngũ người hoạt động không chuyên trách tại địa bàn dân cư.
Nghị định gồm 5 chương, 20 điều với nhiều nội dung quan trọng, trong đó tập trung vào các vấn đề sau:
Trước hết, Nghị định khẳng định rõ vị trí, vai trò của thôn, tổ dân phố trong hệ thống quản lý ở cơ sở.
Theo đó, thôn, tổ dân phố là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư có chung địa bàn cư trú thuộc phạm vi một đơn vị hành chính cấp xã. Đây là nơi trực tiếp triển khai các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với Nhân dân; đồng thời là môi trường để người dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp, tham gia bàn bạc, quyết định những vấn đề liên quan đến đời sống cộng đồng.
Thôn được tổ chức ở xã; tổ dân phố được tổ chức ở phường. Đối với các đặc khu, việc tổ chức thôn, tổ dân phố sẽ do chính quyền địa phương quyết định phù hợp với điều kiện thực tế, đặc điểm dân cư và yêu cầu quản lý.
Một trong những điểm đáng chú ý của Nghị định là tiếp tục đề cao tính tự quản của cộng đồng dân cư. Hoạt động của thôn, tổ dân phố phải bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ trong Nhân dân; đồng thời giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của từng địa phương.
Nghị định cũng yêu cầu tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động của thôn, tổ dân phố nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận thông tin, sử dụng dịch vụ công trực tuyến và tham gia các hoạt động cộng đồng.
Về tổ chức của thôn, tổ dân phố, Nghị định quy định mỗi thôn có Trưởng thôn, mỗi tổ dân phố có Tổ trưởng tổ dân phố là người hoạt động không chuyên trách ở địa bàn dân cư.
Trong trường hợp cần thiết, căn cứ yêu cầu nhiệm vụ và khả năng cân đối ngân sách, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định bố trí thêm các chức danh tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố nhằm hỗ trợ Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố thực hiện nhiệm vụ.
Nhiệm kỳ của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố là 5 năm. Việc bầu cử được thực hiện theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở, bảo đảm quyền lựa chọn của Nhân dân đối với người đại diện cho cộng đồng dân cư.
Nghị định quy định khá toàn diện về nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố.
Theo đó, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố là người trực tiếp tổ chức các hội nghị cộng đồng dân cư; điều hành các hoạt động tự quản; tổ chức thực hiện các quyết định đã được Nhân dân thống nhất thông qua; phối hợp với Ban Công tác Mặt trận, các tổ chức đoàn thể và lực lượng tham gia bảo vệ an ninh trật tự ở cơ sở để triển khai các nhiệm vụ trên địa bàn.
Bên cạnh đó, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố còn có trách nhiệm tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; nắm bắt tình hình đời sống Nhân dân; phản ánh những kiến nghị, nguyện vọng chính đáng của người dân với chính quyền địa phương; tham gia hòa giải ở cơ sở; vận động Nhân dân giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ môi trường, xây dựng đời sống văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội.
Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố còn có nhiệm vụ hướng dẫn, hỗ trợ người dân tiếp cận các nền tảng số, sử dụng dịch vụ công trực tuyến và các tiện ích số phục vụ đời sống hằng ngày.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, Nghị định quy định rõ tiêu chuẩn đối với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố.
Người được lựa chọn phải là công dân Việt Nam từ đủ 21 tuổi trở lên, cư trú thường xuyên tại địa phương; có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín trong cộng đồng dân cư; có năng lực tổ chức, vận động Nhân dân; có kỹ năng tổng hợp, báo cáo công việc; có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Đối với việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố, Nghị định quy định nguyên tắc phải bảo đảm phù hợp với quy mô dân cư, điều kiện kinh tế - xã hội, đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán và yêu cầu quản lý của địa phương.
Mọi phương án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể hoặc đổi tên thôn, tổ dân phố đều phải được lấy ý kiến Nhân dân, bảo đảm dân chủ, công khai và tạo sự đồng thuận trong cộng đồng dân cư.
Đáng chú ý, Nghị định đã quy định cụ thể tiêu chuẩn quy mô hộ gia đình đối với từng vùng miền trên cả nước.
Đối với khu vực đồng bằng sông Hồng, thôn phải có từ 400 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ gia đình trở lên.
Đối với thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tiêu chuẩn cao hơn, trong đó thôn phải có từ 500 hộ gia đình trở lên và tổ dân phố phải có từ 700 hộ gia đình trở lên.
Riêng đối với các địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khu vực biên giới, hải đảo hoặc địa bàn có điều kiện đặc biệt khó khăn thì có thể áp dụng tiêu chí thấp hơn để phù hợp với thực tế địa phương.
Một nội dung quan trọng khác được nhiều người quan tâm là chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.
Theo Nghị định, người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố gồm 3 chức danh là: Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố và Trưởng Ban Công tác Mặt trận.
Số lượng người hoạt động không chuyên trách tại mỗi thôn, tổ dân phố không quá 3 người.
Nhà nước thực hiện khoán quỹ phụ cấp hằng tháng để chi trả phụ cấp và hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội cho đội ngũ này.
Đối với các thôn có từ 700 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố có từ 1.000 hộ gia đình trở lên hoặc thuộc địa bàn biên giới, hải đảo, quốc phòng trọng điểm, thôn đặc biệt khó khăn thì mức khoán quỹ phụ cấp bằng 8 lần mức lương cơ sở.
Đối với các thôn, tổ dân phố còn lại, mức khoán quỹ phụ cấp bằng 6,5 lần mức lương cơ sở.
Căn cứ mức khoán này và khả năng ngân sách địa phương, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh sẽ quyết định mức phụ cấp cụ thể cho từng chức danh, chế độ kiêm nhiệm và các khoản hỗ trợ khác theo quy định.
Bên cạnh đó, người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố còn được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế; được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; được cập nhật kiến thức về chuyển đổi số, kỹ năng tuyên truyền, vận động Nhân dân và các kỹ năng cần thiết khác phục vụ công tác.
Đối với những trường hợp nghỉ công tác do thực hiện sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố thì được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của Chính phủ về tinh giản biên chế.
Có thể khẳng định, Nghị định số 185/2026/NĐ-CP là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của thôn, tổ dân phố; phát huy vai trò tự quản của cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ người hoạt động không chuyên trách ở cơ sở.
Qua đó góp phần xây dựng chính quyền địa phương tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.