Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa, kiến trúc và nghệ thuật, chùa Bối Khê đã được xếp hạng di tích từ năm 1979. Đặc biệt, ngày 17/01/2025, chùa Bối Khê chính thức được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt, sự ghi nhận xứng đáng cho một di sản quý giá của dân tộc.
Trong không gian văn hóa lâu đời của xã Tam Hưng, nơi dòng Đỗ Động Giang lặng lẽ chảy qua bao thế kỷ lịch sử, có một ngôi chùa cổ vẫn bền bỉ hiện hữu như một chứng nhân của thời gian. Đó là chùa Bối Khê – tên chữ là Đại Bi Tự – ngôi già lam cổ tự mang trong mình chiều sâu văn hóa, tín ngưỡng và nghệ thuật kiến trúc đặc sắc của vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Trải qua gần bảy thế kỷ thăng trầm cùng lịch sử dân tộc, chùa Bối Khê không chỉ là nơi tu hành, chiêm bái của tăng ni, phật tử và Nhân dân địa phương, mà còn là điểm hội tụ tinh hoa của Phật giáo, tín ngưỡng dân gian và nghệ thuật kiến trúc truyền thống Việt Nam – một dấu son di sản bền vững cùng thời gian.
Chùa Bối Khê tọa lạc trên thế đất được ví như "Phượng chủy" – đầu chim phượng tung cánh giữa trời nước mênh mang. Phía trước là cánh đồng rộng mở, xa xa là dòng Đỗ Động giang uốn lượn; từ Ngũ môn quan, cầu gạch, Tam quan cho đến Tam bảo, điện Thánh, tất cả tạo nên một chỉnh thể hài hòa giữa kiến trúc và thiên nhiên.
Không gian chùa thoáng đãng, tĩnh tại, cây cổ thụ rợp bóng, giếng đá cổ soi bóng thời gian, tất cả như lắng đọng linh khí của đất trời, nuôi dưỡng đời sống tâm linh của bao thế hệ cư dân nông nghiệp lúa nước.
Về kiến trúc, chùa Bối Khê là một bảo tàng sống của nghệ thuật kiến trúc truyền thống Việt Nam. Ngôi chùa được xây dựng theo kết cấu "nội công, ngoại quốc", các hạng mục bố trí trên một trục chính, đăng đối và chặt chẽ.
Đặc biệt, điện Thánh với kiến trúc chồng diêm hai tầng tám mái, sử dụng hệ thống đấu củng tinh xảo, được đánh giá là một tuyệt tác nghệ thuật tạo hình, thể hiện trình độ kỹ thuật và tư duy thẩm mỹ bậc cao của nghệ nhân xưa.
Hệ thống di vật, cổ vật phong phú: bệ đá hoa sen thời Trần, tượng Phật, tượng Thánh, tượng La Hán qua nhiều triều đại… mỗi hiện vật đều mang giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc biệt, góp phần khẳng định vị thế độc đáo của chùa Bối Khê trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc.
Điểm đặc sắc làm nên giá trị riêng có của chùa Bối Khê chính là loại hình thờ tự "tiền Phật, hậu Thánh", mô hình tiêu biểu cho sự dung hợp hài hòa giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa.
Phía trước là chùa Phật, nơi tôn thờ Tam bảo với không gian trang nghiêm, thanh tịnh. Phía sau là điện Thánh, nơi phụng thờ Đức Thánh Bối Nguyễn Bình An, vị thiền sư đắc đạo thời Trần, được Nhân dân tôn kính như bậc thánh bảo trợ cho cuộc sống và mùa màng.
Theo truyền thuyết dân gian, Đức Thánh Bối sinh ra trong hoàn cảnh linh thiêng, sớm có căn duyên với cửa Phật, tu hành tinh thông, đắc đạo và có nhiều công lao giúp dân, giúp nước. Trong những năm hạn hán khắc nghiệt, Ngài từng được thỉnh về kinh đô làm lễ cầu mưa, mang lại mưa thuận gió hòa cho muôn dân. Với công đức ấy, Ngài được triều đình sắc phong là Thượng đẳng tôn thần, hai ngôi chùa gắn với Ngài được tôn xưng là Quốc tự.
Hình tượng Đức Thánh Bối không chỉ hiện diện trong pho tượng thờ linh thiêng, mà còn sống động trong tâm thức dân gian, trong lễ hội, nghi lễ và mối kết chạ bền chặt giữa các cộng đồng cư dân quanh vùng.
Giữa không gian văn hóa trầm tích của Tam Hưng – vùng đất địa linh nhân kiệt phía Nam Thủ đô Hà Nội, lễ hội chùa Bối Khê giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần của cộng đồng. Không chỉ là sinh hoạt tín ngưỡng của người dân địa phương, lễ hội đã trở thành không gian văn hóa chung, nơi hội tụ đông đảo Nhân dân trong vùng và du khách thập phương cùng tìm về cội nguồn tâm linh.
Lễ hội chùa Bối Khê được tổ chức hằng năm vào đầu mùa xuân, từ ngày mồng 10 đến ngày 12 tháng Giêng âm lịch. Đây là thời điểm đất trời giao hòa, con người tạm gác lại nhịp sống lao động thường nhật để hướng về chốn linh thiêng, cầu mong một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, cuộc sống an lành, hạnh phúc.
Trong tâm thức người dân xã Tam Hưng, lễ hội chùa Bối Khê có ý nghĩa như một "cái Tết thứ hai". Người dân đến hội không chỉ để lễ Phật, chiêm bái Đức Thánh Bối, mà còn để gặp gỡ, giao lưu, hàn huyên, thắt chặt tình làng nghĩa xóm sau một năm vất vả mưu sinh. Chính sự gặp gỡ, gắn kết ấy đã tạo nên sức sống bền bỉ cho lễ hội qua nhiều thế kỷ.
Song hành với phần lễ là phần hội – không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng phong phú, rộn ràng. Nhiều trò chơi, trò diễn dân gian được phục dựng và duy trì như múa rồng, cờ người, chọi gà, bắt vịt, đi cầu khỉ… góp phần làm sống lại không khí lễ hội truyền thống của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Qua đó, tinh thần thượng võ, tính gắn kết cộng đồng và niềm vui lao động, sáng tạo của người dân được thể hiện một cách tự nhiên, sinh động. Những người con Tam Hưng dù đi xa quê hương, mỗi độ xuân về vẫn hướng lòng trở lại lễ hội như một sự trở về nguồn cội. Đó là minh chứng sinh động cho sức sống của một di sản văn hóa đang được cộng đồng gìn giữ, trao truyền và phát huy trong nhịp sống hôm nay.
Trong tổng thể lễ hội chùa Bối Khê, nghi lễ cầu mưa giữ một vị trí đặc biệt, phản ánh sâu sắc tâm thức nông nghiệp của cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, nơi cuộc sống bao đời gắn chặt với đất đai, mùa vụ và nhịp điệu của thiên nhiên. Nghi lễ cầu mưa không phô trương hình thức, mà diễn ra trong không gian linh thiêng, trang nghiêm của chốn già lam cổ tự. Tiếng chuông chùa ngân vang, tiếng trống thiêng trầm hùng hòa cùng lời khấn nguyện của các bô lão và Nhân dân, gửi gắm ước vọng về sự giao hòa giữa trời – đất – con người, với tát cả tấm lòng thành kính, niềm tin sâu sắc, là khát vọng mưa thuận gió hòa, ruộng đồng xanh tốt, cuộc sống yên bình của mỗi gia đình.
Cùng với lễ hội là tục kết chạ giữa hai làng Bối Khê và Tiên Lữ một nét sinh hoạt cộng đồng đặc sắc, được bắt nguồn từ truyền thuyết về Đức Thánh Bối Nguyễn Bình An, người có công lớn với cả hai vùng đất.
Trải qua nhiều thế kỷ, mối giao hảo ấy vẫn được gìn giữ như một biểu tượng sinh động của tinh thần đoàn kết, nghĩa tình làng xã. Những nghi thức giao lưu, đón tiếp được tổ chức trang trọng; việc lựa chọn các bậc cao niên đạo cao, đức trọng đại diện cho cộng đồng đã góp phần bảo tồn và lan tỏa những chuẩn mực ứng xử truyền thống tốt đẹp của người Việt.
Ngày nay, tục kết chạ Bối Khê – Tiên Lữ vẫn được duy trì như một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần của Nhân dân. Không chỉ thể hiện sự tri ân sâu sắc đối với Đức Thánh Bối, tục lệ này còn là sợi dây kết nối các thế hệ, tiếp nối mạch nguồn truyền thống, vun đắp tình làng nghĩa xóm và gìn giữ những giá trị nhân văn bền vững của văn hóa Việt Nam.
Chùa Bối Khê – dấu son di sản, không chỉ là niềm tự hào của xã Tam Hưng, mà còn là một phần quý giá trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc. Ở đó, mỗi tấm bia đá, mỗi nếp chạm khắc, mỗi tiếng chuông ngân vang đều là ký ức sống động của cha ông. Đó là lịch sử không nằm trên trang sách, mà hiện hữu giữa đời sống; là mạch nguồn văn hóa bền bỉ tiếp tục nuôi dưỡng nhân cách, hướng con người tới cái thiện, cái đẹp và sự an hòa. Để hôm nay và mai sau, mỗi lần trở về, lòng người lại lắng xuống trong tiếng chuông chùa ngân vọng giữa trời đất quê hương.